Nghị định 335/2026/NĐ-CP: Mở rộng chính sách trợ giúp xã hội, tăng bảo vệ các nhóm yếu thế

Thứ năm - 01/10/2026 09:39
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 335/2026/NĐ-CP ngày 21/8/2026 quy định chính sách trợ giúp xã hội, tạo khuôn khổ mới cho việc thực hiện trợ cấp xã hội thường xuyên tại cộng đồng, trợ giúp khẩn cấp, chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng và tại cơ sở trợ giúp xã hội. Nghị định đồng thời mở rộng, cụ thể hóa các nhóm đối tượng được thụ hưởng, chuẩn hóa quy trình thực hiện và tăng cường trách nhiệm của các cơ quan, địa phương trong bảo đảm an sinh xã hội.
 

Bảo đảm chính sách trợ giúp xã hội kịp thời, công bằng, đúng đối tượng

Theo Nghị định, chính sách trợ giúp xã hội được thực hiện theo nguyên tắc kịp thời, công bằng, công khai, minh bạch; hỗ trợ theo mức độ khó khăn và ưu tiên tại gia đình, cộng đồng nơi đối tượng đang sinh sống. Chính sách cũng được điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng cân đối ngân sách nhà nước từng thời kỳ.

Nghị định quy định mức chuẩn trợ giúp xã hội là 500.000 đồng/tháng, làm căn cứ xác định mức trợ cấp xã hội hàng tháng và các mức hỗ trợ khác theo quy định. Trường hợp địa phương bảo đảm được nguồn lực, UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định mức chuẩn trợ giúp xã hội và mức trợ giúp xã hội cao hơn mức quy định tại Nghị định.

Điểm đáng chú ý là chính sách được thiết kế theo hướng lấy mức độ khó khăn thực tế của người dân, hộ gia đình và cộng đồng làm căn cứ hỗ trợ, qua đó góp phần bảo đảm người yếu thế được tiếp cận chính sách an sinh xã hội đầy đủ, đúng lúc.

Mở rộng diện người được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng

Nghị định dành riêng Chương II quy định về trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng, trong đó xác định cụ thể các nhóm đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng.

Đáng chú ý, nhóm đối tượng bao gồm trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng, trẻ em thuộc hộ nghèo bị nhiễm HIV/AIDS; người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc không đủ điều kiện sống tại cộng đồng; người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng; người cao tuổi thuộc các trường hợp luật định và một số nhóm đối tượng khác.

Đối với trẻ em, Nghị định quy định nhiều trường hợp cần được bảo vệ, hỗ trợ như trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em có cha, mẹ đã chết hoặc không xác định được; trẻ em có cha hoặc mẹ mất tích; trẻ em đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù hoặc đang ở cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng...

Mức trợ cấp được xác định theo hệ số gắn với từng nhóm đối tượng, trong đó có hệ số 2,5 đối với trẻ em dưới 4 tuổi thuộc một số nhóm; hệ số 1,5 đối với trẻ em từ đủ 4 tuổi; hệ số cao hơn đối với một số trường hợp đặc thù như trẻ em thuộc diện quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 5. Người khuyết tật đặc biệt nặng, trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng và một số nhóm người cao tuổi khuyết tật cũng được áp dụng hệ số phù hợp.

Không chỉ trợ cấp tiền: tăng hỗ trợ chăm sóc, giáo dục và mai táng

Một trong những nội dung thể hiện rõ tính nhân văn của Nghị định là chính sách trợ giúp xã hội không dừng ở khoản trợ cấp hàng tháng, mà còn bao gồm nhiều hình thức hỗ trợ thiết yếu.

Người thuộc diện được hưởng chính sách có thể được cấp thẻ bảo hiểm y tế; hỗ trợ giáo dục, đào tạo; hỗ trợ chi phí mai táng và các chế độ khác theo quy định. Đối với trường hợp thuộc diện được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng, chính sách còn bao gồm hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng và các khoản hỗ trợ cần thiết khác.

Riêng hỗ trợ chi phí mai táng, Nghị định quy định đối tượng được hỗ trợ gồm người đang hưởng trợ cấp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội hoặc một số đối tượng đặc thù theo quy định. Mức hỗ trợ chi phí mai táng tối thiểu bằng 20 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội, đồng thời quy định cụ thể trình tự, thủ tục để thân nhân hoặc tổ chức, cá nhân đứng ra tổ chức mai táng được tiếp cận chính sách.

Tăng khả năng ứng phó khi người dân gặp thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh

Bên cạnh trợ giúp thường xuyên, Nghị định dành Chương III quy định về trợ giúp khẩn cấp, nhằm hỗ trợ người dân trong những thời điểm khó khăn đột xuất.

Theo đó, hộ gia đình, cá nhân gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, tai nạn giao thông, tai nạn lao động nghiêm trọng hoặc các lý do bất khả kháng được xem xét hỗ trợ theo quy định. Chính sách bao gồm hỗ trợ lương thực, hỗ trợ chi phí mai táng, hỗ trợ làm nhà, sửa chữa nhà ở và hỗ trợ di dời nhà ở trong những trường hợp cần thiết.

Đáng chú ý, đối với người bị thương nặng do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn giao thông, tai nạn lao động hoặc dịch bệnh, mức hỗ trợ được quy định không thấp hơn 10 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội. Đây là cơ chế hỗ trợ trực tiếp nhằm giúp người dân vượt qua những tổn thất nghiêm trọng, bảo đảm an sinh trong các tình huống cấp bách.

Nghị định cũng quy định việc hỗ trợ gạo, cứu đói đối với hộ gia đình thiếu đói, trong đó hỗ trợ được thực hiện theo từng tình huống và nguồn lực theo quy định; đồng thời quy định trách nhiệm của UBND cấp xã, cấp tỉnh trong việc rà soát, tổng hợp và tổ chức hỗ trợ.

Chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng: đặt người yếu thế ở vị trí trung tâm

Một điểm mới quan trọng là Nghị định dành riêng một chương để quy định về chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng, trong đó xác định rõ đối tượng, chế độ, hồ sơ, thủ tục và trách nhiệm của người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng.

Đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp như trẻ em bị bỏ rơi, nạn nhân của bạo lực gia đình, nạn nhân bị bóc lột hoặc bị mua bán, người lang thang xin ăn trong thời gian chờ đưa về nơi cư trú và các trường hợp cần bảo vệ khẩn cấp khác được quy định cụ thể để có cơ chế tiếp nhận, chăm sóc phù hợp.

Người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng phải đáp ứng các điều kiện về năng lực hành vi dân sự, phẩm chất đạo đức, nơi ở ổn định, điều kiện kinh tế, sức khỏe và kinh nghiệm chăm sóc, đồng thời phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người được chăm sóc, nuôi dưỡng.

Đặc biệt, người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng phải bảo đảm điều kiện để trẻ được đi học, chăm sóc sức khỏe, vui chơi, giải trí; bảo đảm an toàn, vệ sinh; đối xử bình đẳng và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định pháp luật.

Chuẩn hóa hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội

Đối với các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, không còn khả năng tự bảo đảm cuộc sống hoặc không có nơi nương tựa, Nghị định quy định cụ thể về chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội.

Các cơ sở trợ giúp xã hội được bố trí kinh phí để thực hiện các chế độ về trợ cấp hàng tháng, tiền ăn, tiền thuốc chữa bệnh, chi phí điều trị, đồ dùng sinh hoạt, chi phí học tập, vệ sinh cá nhân và các khoản hỗ trợ thiết yếu khác.

Nghị định đồng thời quy định hồ sơ, trình tự tiếp nhận, quản lý hồ sơ và điều kiện dừng chăm sóc, nuôi dưỡng; qua đó tăng tính minh bạch, thống nhất trong quản lý đối tượng và nâng cao trách nhiệm của cơ sở trợ giúp xã hội.

Đề cao trách nhiệm của chính quyền địa phương

Để chính sách đi vào cuộc sống, Nghị định quy định rõ trách nhiệm của Bộ Y tế, UBND cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức có liên quan.

UBND cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức thực hiện chế độ, chính sách trợ giúp xã hội; bảo đảm kinh phí; chỉ đạo các cơ quan chuyên môn và UBND cấp xã triển khai chính sách; kiểm tra, giám sát và tổng hợp, báo cáo kết quả thực hiện theo quy định.

Việc chi trả chính sách được thực hiện theo hướng kịp thời, đầy đủ, đúng đối tượng, trong đó Nghị định quy định việc ưu tiên thực hiện chi trả qua tài khoản thanh toán, tài khoản an sinh xã hội; đồng thời có cơ chế lựa chọn tổ chức dịch vụ chi trả và kiểm soát việc chi trả.

Chính sách mới chính thức có hiệu lực từ ngày 05/10/2026

Theo Điều 32 của Nghị định, Nghị định số 335/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 05/10/2026. Nghị định đồng thời quy định việc chuyển tiếp đối với hồ sơ, đối tượng đang hưởng trợ cấp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng và các chế độ liên quan để bảo đảm quá trình thực hiện chính sách không bị gián đoạn.

Các địa phương có trách nhiệm rà soát danh sách đối tượng đang hưởng chính sách theo Nghị định mới và thực hiện các thủ tục cần thiết theo quy định, trong đó có yêu cầu rà soát đối tượng đang hưởng trợ cấp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng từ thời điểm quy định.

Với việc quy định tương đối toàn diện từ đối tượng, mức hưởng, hình thức hỗ trợ đến hồ sơ, thủ tục, tổ chức thực hiện và cơ chế chuyển tiếp, Nghị định số 335/2026/NĐ-CP được kỳ vọng tiếp tục củng cố mạng lưới an sinh xã hội, bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích của trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người không có nơi nương tựa và những người gặp hoàn cảnh khó khăn, rủi ro trong cuộc sống.

Nghị định số 335/2026/NĐ-CP ngày 21/8/2026 gồm 35 điều và các biểu mẫu kèm theo, trong đó có các mẫu tờ khai đề nghị trợ cấp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội; đề nghị nhận chăm sóc, nuôi dưỡng; đề nghị hỗ trợ chi phí mai táng; đề nghị chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội và biểu mẫu kết quả thực hiện chính sách.

Xem chi tiết Nghị định 335/2026/NĐ-CP của Chính phủ tại đây: /uploads/news/2026_10/nd-335-ndcp-ve-quy-dinh-chinh-sach-tro-giup-xa-hoi-21.8.2026_compressed_1.pdf

Nguồn tin: ninhbinh.gov.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Thống kê website

  • Đang truy cập19
  • Hôm nay199
  • Tháng hiện tại1,036
  • Tổng lượt truy cập1,240,812

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây